Văn hóa & kinh tế trà

Người Việt có thể tự hào với công phu tẩm ướp, pha chè Thái Nguyên và thưởng thức trà. Trà được chia làm 3 loại: trà hương, trà mạn và trà tươi.

Trong trà hương thì đáng chú ý nhất là Trà sen, để trà sen ngon đạt đến mức hảo hạng, trước tiên người làm chè yêu cầu những người hái chè có tay nghề, trong khi hái chè chỉ hái những búp trà loại "một tôm hai lá" và phải hái nhanh, nhẹ nhàng, không để búp bị nhàu nát, sau khi sao phải còn lại một lượng nước nhất định từ 5-7%. Trà hái xong không ướp hương ngay mà phải để trong chum đất, trên ủ lá chuối, để từ 2-3 năm nhằm làm giảm độ chát và để cánh trà phồng lên hút được nhiều hương. Một cân chè Thái Nguyên ướp hương sen cần có 800-1000 bông sen, mà phải đúng loại sen to và thơm. Hoa sen phải hái trước lúc bình minh. Bông sen còn đẫm sương được tách lấy phần hạt gạo rồi rải đều, cứ một lớp trà một lớp gạo sen. Sau cùng phủ một lớp giấy bản. Ướp như vậy liên tục 5-6 lần, mỗi lần ướp xong lại sấy khô rồi mới ướp tiếp. Công phu là thế nên một ấm trà sen có thể uống hàng chục tuần trà. Nước trong rồi, hương sen còn ngan ngát.

Ngoài Trà sen còn có Trà nhài, Trà sói, Trà ngâu, Trà mộc, Trà bưởi và Trà cúc. Trà nhài đượu ướp với hoa nhà (hoa lài): Lá trà được thu hoạch vào mùa xuân và được lưu trữ cho đến đầu mùa hè khi hoa nhài tươi nở rộ. Hoa nhài được thu hái vào khoảng 2 giờ chiều, được giữ mát cho đến tối mới pha trộn với trà. Phải mất hơn bốn giờ để trà hấp thụ mùi thơm và hương vị của hoa, quá trình này có thể được lặp đi lặp lại sáu hoặc bảy lần. Trà hấp thụ độ ẩm từ những bông hoa nhài tươi nên phải được tách ra sau khi ướp xong một công đoạn để ngăn chặn việc khascm. Cũng có khi còn được ướp thêm với một số thảo dược khác.

Trà ngâu được ướp với hoa ngâu. Cây ngâu cho hoa nhiều nhất sau 10 năm tuổi và cho thu hoạch quanh năm tới hàng trăm năm.Hoa ngâu ngoài hương vị thơm mát còn có vị cay ngọt, làm cho đầu óc thư giãn, sáng mắt, và thanh lọc cơ thể. Hoa ngâu tuy nhỏ nhưng hương thơm rất dễ chịu, khi ướp với trà, nó tạo nên hương vị đậm đà và thuần khiết.

Trà bưởi được ướp với hoa bưởi. Dân gian có câu "Hoa Lài, hoa Lý, hoa Ngâu.. Không bằng hoa bưởi thơm lâu, dịu dàng". Trong Đông y hoa bưởi là một loại thuốc quý để chữa chứng ho đờm, đau dạ dày, đau đầu do mệt mỏi... Hoa bưởi 4g, hoa đậu một bát, nước gừng nửa thìa, đường phèn một thìa. Hoa bưởi rửa sạch cho vào nồi đun khoả ng 10 phút sau đó bỏ bã lấy nước. Cho tiếp nước gừng, đường, hoa đậu vào rồi đun tiếp sau đó lấy ra ăn. Có tác dụng tiêu đờm, thông đại tiện. Hoặc là hoa bưởi 5g, đường phèn một thìa nhỏ. Đun trong 200ml nước, sau khi sôi 5 phút cho đường vào rồi đun tiếp. Đem uống có tác dụng tuần hoàn khí huyết, chữa đau dạ dày.

Khó khăn nhất hiện nay là giá chè xuất khẩu bình quân của nước ta chỉ bằng 52,8% so với giá thế giới, gần đây giảm xuống 45%. Do vậy, để nâng cao chỉ số cạnh tranh của chè Việt trên thị trường thế giới, ngoài việc chọn giống để nâng cao chất lượng chè thì cần hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện đúng các quy định quản lý về chất lượng và VSATTP.

Việt Nam có loại trà cổ thụ, muốn hái phải trèo lên cây. Đó là Trà vàng Hà Giang: thường được gọi là trà Mạn. Đây là một trong những loại trà Việt có lịch sử lâu đời nhất. Xuất phát từ vùng Tây Bắc Việt Nam, chè Mạn đã ăn sâu vào trong tiềm thức người Việt qua nhiều thế hệ. Chè Mạn được hiểu theo hai cách: chè Tân Cương Thái Nguyên - Mạn Hảo hay chè Mạn Ngược. Trà vàng Hà Giang được chế biến từ búp trà Shan non 1 tôm 2 lá, chất lượng tuyệt hảo. Tôm và lá non thứ nhất có lông tuyết trắng tạo nên hương vị dịu mát, sắc vàng ửng đỏ, ít chát được nhiều người ưa chuộng.

Trà xanh cho nước trong xanh, hương dịu thơm tự nhiên và có vị ngọt hậu. Trà xanh xét về bản chất gần với chè tươi nhất kể cả từ hương vị đến sắc nước. Dân gian có câu" Nước trà xanh vừa lành vừa mát". Trên thị trường Trà Việt có rất nhiều thương hiệu trà xanh, song nổi tiếng và phổ biến nhất vẫn là trà Thái Nguyên và đại diện điển hình là danh trà Tân Cương.Trà xanh chia làm nhiều loại dựa theo cách chế biến: trà xanh sao suốt, trà xanh sấy khô bằng hơi nóng, trà xanh phơi nắng, trà xanh hấp, sấy bằng hơi nước hoặc trần nước sôi. Uống 2 tách trà xanh mỗi ngày được xác minh là có thể điều hòa mức cholesterol và giảm nguy cơ bị ung thư. Nhờ thường xuyên uống trà xanh mà tỷ lệ sa sút trí tuệ của người Nhật thấp hơn nhiều so với người Mỹ.

Phong cách uống trà của nguời Việt không hề bị ảnh hưởng theo Trung Hoa hay Nhật Bản như quan niệm của nhiều người. Nghệ thuật uống trà biểu hiện phong phú những khía cạnh văn hóa ứng xử của người Việt Nam. Trong gia đình truyền thống, người dưới pha trà cho người trên, phụ nữ pha trà cho đàn ông. Người ta có thể uống trà một cách im lặng khi sự im lặng chứa chất nhiều điều, người ta có thể xét đoán tâm lý của người đối diện lúc dùng trà và khi đã trở thành một cái thú thì không thể quên nó. Trà đồng nghĩa với sự sảng khoái, tỉnh táo, tĩnh tâm để mưu điều thiện, tránh điều ác.

Nghệ thuật thưởng trà Việt chia làm ba cung bậc: Độc Ẩm (một người uống), Đối Ẩm (hai người uống), và Quần Ẩm (nhiều người cùng uống). Tùy theo cung bậc mà chọn đồ pha trà phù hợp. Đồ pha trà phải có những dụng cụ tối thiểu như ấm trà, thuyền trà (bát ngâm ấm trà cho nóng), bồn trà, chén trà, lò than hoa, thìa xúc trà… Loại trà mộc dùng ấm đất, loại trà ướp hương chọn ấm sành sứ. Mỗi loại trà một ấm riêng, không pha lẫn để tránh ảnh hưởng tới hương vị trà. Chén uống chè Thái Nguyên phải là chén tống hay chén quân. Chén tống là loại chén to dùng để chuyên trà, chén quân dùng để uống trà. Khi trà chín, trà được chuyển từ chén tống sang chén quân. Tiếp đó dội nước sôi lên nắp ấm để giữ nhiệt cao nhất cho trà. Sau khi trà chín, rót chén đầu tiên rồi lại đổ ngay vào ấm để tạo sự luân chuyển không khí trong ấm, gọi là thông hương ấm trà. Thông hương xong thì thực hiện rót trà. Các chén trà được đặt kê khít miệng cạnh nhau. Vòi ấm được rót quay vòng để nồng độ trà được chia đều như nhau cho mỗi chén. Người thưởng trà chậm rãi mím miệng nuốt khẽ cho hương trà thoát ra đằng mũi và đồng thời đọng trong cổ họng./.

Viết bình luận: