Ngành chè Việt Nam cơ hội và thách thức

Tăng cường xúc tiến thương mại trong nước và quốc tế thông qua văn hóa để người dân thế giới có thêm hiểu biết về chè xanh Việt Nam, đồng thời cũng gia tăng giá trị văn hóa của chè Tân Cương Thái Nguyên xanh và thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ chè xanh đối với người dân trong nước, là một trong những giải pháp phát triển bền vững ngành công nghiệp chè Việt Nam.

CƠ HỘI

Hiện nay, nhu cầu sử dụng chè xanh tăng do người tiêu dùng thế giới ngày càng quan tâm đến đồ uống có lợi cho sức khỏe: Sản lượng chè xanh thế giới bình quân tăng 2.6% năm, từ 680.700 tấn năm 2000 lên 900.000 tấn năm 2010. Sản xuất và xuất khẩu chè xanh được dự kiến sẽ có xu hướng tăng mạnh. Kim ngạch xuất khẩu tăng 2,8% hàng năm từ 186,800 tấn năm 2000 lên 254.000 tấn trong năm 2010. Trung Quốc tiếp tục xuất khẩu chè xanh hàng đầu thế giới, với mức xuất khẩu đạt 210.000 tấn vào năm 2010, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 2,7%. Morocco, quốc gia nhập khẩu chè xanh lớn nhất thế giới, được dự báo sẽ tăng lượng nhập khẩu từ 35.200 tấn/năm 2000 lên 59000 năm 2011, với tỉ lệ tăng trưởng trung bình 4.5%/năm. (Trích báo cáo FAO).

Việt Nam được coi là quốc gia sản xuất chè xanh, với mức tăng trưởng trung bình hàng năm là 2.5%, trong đó Thái Nguyên được biết đến là cái nôi của chè xanh. Người dân trong nước đang quay lại với các giá trị truyền thống, đặc biệt là thói quen uống chè Thái Nguyên xanh. Chất lượng cuộc sống tăng cao khiến nhu cầu sử dụng các sản phẩm có lợi cho sức khỏe tăng, đặc biệt chè xanh được coi là thức uống có lợi cho sức khỏe. Với dân số 86 triệu người, thị trường nội địa có tiềm năng phát triển rất lớn. Các sản phẩm chè Việt đa dạng về chủng loại, phong phú về mẫu mã.

THÁCH THỨC

Mặc dù có nhiều ưu thế nhưng chất lượng chè xanh của Việt Nam chưa được đánh giá cao do thiếu các chứng nhận quốc tế. Chè Việt vẫn bị coi như một sản phẩm đấu trộn, chủ yếu xuất dưới dạng thô, không có thương hiệu, do đó người tiêu dùng thế giới ít biết tới chè Việt… Trong khi đó, yêu cầu của các nước nhập khẩu về tiêu chuẩn chất lượng sẽ ngày càng tăng cao.

Các kênh phân phối chưa mang tính chuyên biệt, chưa có nhiều chương trình quảng bá thúc đẩy nhu cầu sử dụng chè xanh trong nước. Sản xuất chè Thái Nguyên chủ yếu mang tính chất hộ gia đình nhỏ lẻ, thiếu tính đồng nhất, ý thức người dân chưa cao, tiêu chuẩn VSATTP chưa được chú trọng. Người tiêu dùng không an tâm về VSATTP của chè. Thông tin thị trường trong nước thiếu hụt khiến người sản xuất và người tiêu dùng khó nắm bắt được giá thực tế của sản phẩm.

GIẢI PHÁP

Tăng cường tuyên truyền VSATTP tới cả người sản xuất và người tiêu dùng. Tập trung phát triển thị trường nội địa với tiềm năng lớn. Khuyến khích các doanh nghiệp và các vùng đăng ký chỉ dẫn địa lý. Tăng cường xúc tiến thương mại trong nước và quốc tế thông qua văn hóa để người dân thế giới có thêm hiểu biết về chè Thái Nguyên xanh Việt Nam, đồng thời cũng gia tăng giá trị văn hóa của chè xanh và thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ chè xanh đối với người dân trong nước.

Viết bình luận: