Lý giải hỗn loạn Trà Tàu, Trà Cung đình và sử dụng thi ca suy diễn gượng ép:

Khẳng định “Trà Tàu là Trà Việt” rồi cho ra khái niệm “Trà Cung đình”:

VMTV – trang 93,94 viết: “Mặt khác, chữ Trà viết nhưng đọc thành nhiều thổ âm khác nhau: đọc là “Te”, âm Mân Việt (Quảng Đông); “Cha” âm Đông Âu việt (Chiết Giang), âm Hán Việt và “Chè” âm Lạc Việt (Việt Nam). Chính vì vậy mà ở Việt Nam chỉ một chữ trà đồng nghĩa cho cả hai âm: trà và chè. Nó còn phải thể hiện ý nghĩa cho cả hai dòng trà song hành trong xã hội: Chè Tân Cương Thái Nguyên Dân gian và Trà Cung đình. Lại nữa, dòng Trà Cung đình Việt giao lưu mật thiết với văn hóa trà Trung Hoa từ thời Đường – Tống và có những nét tương đồng nhất định [?]. Thậm chí có những tiêu chí gần với trà Trung Hoa hơn dòng chè Dân gian. Từ đó thuật ngữ Trà Tàu thành tên cho dòng Trà Cung đình Việt là một thực tế khách quan để phân biệt với dòng Chè Dân gian Việt vốn không có trong trà Trung Hoa [?]. Danh sĩ Tùng Niên Phạm Đình Hổ, một trà sư siêu hạng, ở thế kỷ 18 để lại cho hậu thế áng văn bất hủ về Trà Tàu cũng là vì lẽ đó. Thực chất đó chính là nét sinh hoạt sôi động của dòng Trà Cung đình Việt vốn chỉ khu trú trong chốn cung đình, tầng lớp quý tộc từ thế kỷ 17 trở về trước, khi ấy (thế kỷ 18) đã lan tỏa rộng rãi ra toàn xã hội”.

Tham chiếu chính cuốn Vũ trung tùy bút năm 1989 này, tức [33: tr. 32-33] do Nguyễn Quảng Tuân khảo đính và chú thích dựa theo bản dịch của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến và có G.S Nguyễn Lộc viết lời bạt, chứng tỏ bản dịch hiệu đính rất công phu, kỹ lưỡng, không thể sai sót. VMTV – trang 157 ca ngợi tùy bút của PĐH là “áng văn bất hủ” nhưng trích sai nguyên cả đoạn văn “Cách uống chè” [33: tr 32-33] đã đành, tác giả còn cố tình biến tất cả các chữ “Chè” trong nguyên bản thành chữ “Trà” nhằm minh họa cho ý tưởng: “Trà – Cung đình, còn Chè – Dân gian” của mình để làm gì? Kết hợp đối chiếu kỹ phần chua (1) của sách Hương trà [29: tr.72] cuối cùng cho thấy tác giả VMTV dựa theo nhận định khá riêng tư của cụ Đỗ Trọng Huề để lý luận: “Việt Nam chúng ta theo hệ thống Quảng Đông nên có chữ Trà. Nhưng bên cạnh chữ Trà là cách phát âm quý-tộc, còn một biến âm bình-dân là Chè. Thí dụ: Sáng trăng sáng nửa vườn chè (Nguyễn Bính)”. Xem Hình 1.1 (đính kèm ngay bên dưới) sẽ thấy tác giả tham khảo sai lầm ngay từ phát âm “tể” và “t’cha” nhưng do không theo luôn ý cụ Huề nên tác giả phải “luận suy” nhào nặn ra chữ “trà” để có văn minh “Trà Cung đình” gượng ép như trích dẫn.

325496846 580x890 P 3 / Những sai sót trong cuốn “Văn Minh Trà Việt”

Hình 1: Nguồn gốc “tể” và “t’cha” [29: tr.72]

 

 

Phân biệt nguồn gốc tên gọi ‘chè’/‘trà’, thiết nghĩ VMTV không cần phải “mất công” như vậy. Tác giả có thể đọc kỹ ở cuốn Khoa học Văn hóa Trà Thế giới và Việt Nam của PGS Đỗ Ngọc Quỹ – TS Đỗ Thị Ngọc Oanh – ở mục II.2, từ trang 42-45 (tái bản lần 1 có sửa chữa, bổ sung, Nxb Nông nghiệp, 2011) cuốn sách VMTV có đề cập số [10] và tham khảo khá nhiều. Cụ Đỗ Ngọc Quỹ sử dụng định nghĩa của Hoàng Phê phân biệt cách dùng chè/ trà xưa nay trong ngôn ngữ Việt Nam (II.2.1) cũng như giải thích nguồn gốc chữ Trà trong lịch sử cổ đại Trung Hoa (II.2.3). Nếu chưa thỏa đáng, tác giả VMTV có thể tham cứu thêm GS-VS Trần Ngọc Thêm trong bài nói chuyện “Chè và văn hóa Trà” tại quán Trà Việt ở NVH Thanh niên năm 2005 (nguồn Internet) nhưng nội dung không khác mấy:

 

“Về tên gọi, trong tiếng Việt có hai từ “chè” và “trà”. “Chè” là từ thuần Việt, được dùng để chỉ cả cây trồng, lẫn sản phẩm tươi và sản phẩm chế biến (cây chè, chè tươi, chè đen, uống chè). “Chè” còn được mở rộng nghĩa ra để chỉ nước uống từ các loại lá cây khác (chè vối, chè nhân trần), để chỉ món ăn ngọt nấu bằng các chất bột, hạt, củ với đường mật (ăn chè đậu đen, chè thập cẩm). “Trà” là từ mượn từ tiếng Hán, chỉ dùng để chỉ sản phẩm đã qua chế biến mà thôi (uống chè thái nguyên, trà tàu, trà sen) […]

Nếu tính rằng cây chè có nguồn gốc từ Đông Nam Á cổ đại, thì có thể thấy rằng “chè” tiếng Việt là từ có nguồn gốc từ tiếng Đông Nam Á cổ, có quá trình tồn tại lâu đời, nên có phạm vi sử dụng vô cùng rộng rãi (được dùng để chỉ cả cây trồng, cả sản phẩm, cả các loại nước uống các món ăn ngọt khác). Từ tiếng Đông Nam Á cổ, “chè” thâm nhập vào tiếng Hán, biến thành “trà”, rồi sau này “trà” tiếng Hán quay trở lại Việt Nam. Thành ra tiếng Việt ngày nay có cả hai từ “chè” và “trà”, và vì xuất hiện sau nên “trà” chỉ giới hạn trong phạm vi nghĩa chỉ sản phẩm, trong khi “chè” vì có trước nên đã mang luôn cả nét nghĩa của “trà”.

Chỉ từ mô tả theo trí nhớ của Phạm Đình Hổ qua một tùy bút ngắn về “Cách uống chè”, VMTV mạnh dạn khẳng định rằng thời Lê – Trịnh, Trà Cung đình lan tỏa toàn xã hội mà chính gốc nó là trà Tàu, tiếp rồi biến cụ PĐH thành “trà sư siêu hạng” (VMTV – trang 94) và “trà sĩ siêu hạng” (VMTV – trang 139) chuyên uống trà Cung đình thì quá gượng ép, sống sượng. Vũ trung tùy bút, tức “theo đà ngọn bút múa trong mưa”, là phút văn sĩ thăng hoa về thú thưởng trà Tàu xem ra khá thịnh ở Đông Kinh thời Lê mạt và ông nói rất rõ là thiên hạ “đua đòi mua chuốc bộ đồ chè và uống trà Tàu”. Vũ Thế Ngọc viết Trà Kinh cũng trích đúng đoạn tả thực này của PĐH vào mục Trà Tàu ở Việt Nam (Vũ Thế Ngọc, Trà Kinh, Nxb Văn nghệ 2006, tr.178) và có nhận xét khách quan: “Phạm Đình Hổ không phải là nhà nghiên cứu nên ông có những giới hạn và sai lầm là lẽ tự nhiên. Tuy nhiên qua đoạn văn dài vừa qua, ta đã thấy về lối thưởng ngoạn trà của ta luôn luôn biến chuyển theo lề lối thưởng ngoạn ở Trung Quốc, song luôn luôn có tinh thần cầu tiến và độc lập. Rất tiếc ông chỉ là nhà văn nên không cho biết những danh trà mà Trung Quốc lẫn Việt Nam còn truyền tụng được sản xuất ở Việt Nam như…”. Lưu ý, VMTV có tham khảo rất kỹ Vũ Thế Ngọc, vậy “dòng Trà Cung đình Việt giao lưu mật thiết với văn hóa trà Trung Hoa từ thời Đường – Tống và có những nét tương đồng nhất định” của VMTV vô tình trùng ý ai đó suy ra “qua đoạn văn dài vừa qua,[…]” chăng?

Để rõ hơn về Phạm Đình Hổ, tôi xin trích lời bạt của Giáo sư Nguyễn Lộc nơi [33: tr.213-214] để độc giả tường minh về PĐH và thời điểm ông viết Vũ trung tùy bút xem ông đã từng được nếm thử “Trà Cung đình” chưa nhé: “Phạm Đình Hổ từ rất bé đã ôm ấp cái mộng làm văn chương […] Cuối đời Chiêu Thống ông có vào học ở trường Quốc Tử Giám, thi đậu sinh đồ, nhưng thời thế lúc bấy giờ không yên, ngai vàng của vua lê bị lung lay, […] Triều đình Lê Trịnh sụp đổ, nhà Tây Sơn lên cầm quyền … Suốt giai đoạn này PĐH ở quê dạy học. Đến khi Gia Long lên ngôi, dần khôi phục lại việc thi cử, PĐH cũng có mang lều chõng đi thi, nhưng không đậu […] Cuộc đời PĐH chủ yếu dành cho sáng tác và biên soạn sách, chứ không phải làm quan […]

Vũ trung tùy bút […] PĐH gọi tác phẩm của mình là “tùy bút” với cái nghĩa hết sức nôm na là muốn viết cái gì thì viết, không cần hệ thống, kết cấu, thậm chí đôi khi không cần cả mạch lạc. […] Về cách uống trà, ông cũng miêu tả khá tỉ mỉ […] Ông nói về cách uống trà của người Trung Quốc rồi liên hệ đến cách uống trà của ta […] Những điều PĐH viết về uống trà có khác gì những điều Nguyễn Tuân viết sau này!”. Phạm Đình Hổ dù viết “Ta sinh trưởng đương lúc thịnh vượng đời Cảnh Hưng” nhưng khi bắt đầu lớn vào học Quốc Tử giám thì họ Trịnh đã bị nhà Tây Sơn diệt, đất nước loạn lạc sắp vướng họa Tàu xâm do Chiêu Thống rước về. Nên cũng như Nguyễn Tuân, Phạm Đình Hổ thuần túy chỉ là một nhà văn tài hoa khi viết về “thú thưởng trà” xứng đáng lưu danh văn học sử chứ chưa chắc là “trà sĩ sành điệu” như tác giả VMTV tôn phong.

VMTV – trang 154: “Vào thời Lý- Trần, dòng trà Thiền và Trà Cung đình quyện chặt quấn quýt bên nhau khi Phật giáo là quốc đạo và không ít những vị vua Lý, vua Trần đã rũ bỏ ngai vàng tìm đến sự tĩnh lặng chốn thiền môn. Thậm chí Phật hoàng Trần Nhân Tông còn trở thành Phật tổ chân truyền của dòng phái Trúc Lâm, khai sáng ra dòng Phật đạo thuần Việt”. Thế nào là “Phật tổ chân truyền”, nếu lỡ “chân truyền” đi thì sao còn thêm “khai sáng ra dòng Phật đạo thuần Việt”. Ngôn ngữ vô tình của tác giả đã quá có lỗi với vị Vua trí huệ bậc nhất Việt Nam này. Vì tinh thần tự tôn dân tộc và tông tộc Trần, để rạng danh hào khí Đông A mà Phật Hoàng đích thân 2 lần cùng Trần Hưng Đạo cầm quân đánh thắng Nguyên Mông (vốn chinh phục ¾ thế giới và đang đô hộ xứ Tàu); để đề phòng họa ngoại xâm, thuận theo quốc đạo, khát vọng “sâu rễ bền gốc” về mặt tư tưởng quân dân, Ngài đã dựng thiền phái Trúc Lâm sánh cùng Tùng Lâm xứ Tàu nhưng siêu vượt bởi sự dung hòa Vua (Sơ tổ Trần Nhân Tông) – Quan (Tam tổ Huyền Quang) – Dân đen (Nhị tổ Pháp Loa) mở ra một phong cách lãnh đạo trí tuệ cho các lãnh tụ Việt Nam muôn đời.

VMTV – trang 154, tác giả tiếp tục cho biết (cách viết khiến được hiểu từ thời Lý do bởi tác giả nhầm năm “Thiên Ứng Chính Bình” còn của nhà Lý): “Diên hộ Trà (trà đình) nở rộ khắp chốn nhân gian”. Thực tế, Trà đình chỉ “nở rộ” vào đầu thời Trần và được gọi là “điện Hô Trà”. Xin tác giả kiểm chứng lại! Thời kỳ này, Trần Thủ Độ vừa được phong Thống quốc Thái sư, tích cực dứt điểm ảnh hưởng của tông thất nhà Lý, định lại các thủ tục: “Tháng 2 (Đinh Dậu, năm thứ 6 (1237) hay Tống, Gia Hi năm thứ 1), dời dựng điện Linh Quang đến bến Đông, gọi là điện Phong Thủy, phàm khi xa giá đi ra, trú chân ở đấy, các quan đưa đón, tất dâng trầu cau và trà, cho nên tục gọi điện Hô Trà” (Ngô Sĩ Liên, ĐVSKTT, Sđd, tr.274).

Lưu ý “Trà đình” không hề là nơi uống “trà cung đình” như tác giả siêu tưởng mà nơi để quan dân đưa đón, dâng trầu trà; vua gặp gỡ quan, dân như là những hội nghị Diên Hồng nhỏ theo tinh thần “đất Vua, chùa Làng, phong cảnh Bụt”. Tại sao tinh thần nhân chủ thời Trần tiến bộ như vậy? Vũ Thế Ngọc (Trà kinh, sđd, tr.182) đã lý giải mâu thuẫn dùm “tư tưởng và con người Việt Nam”: “Bởi vì đời sống và tư tưởng người Việt Nam không bao giờ chấp nhận bất cứ một giáo điều khuôn thước… Tinh thần dân tộc Việt luôn là một tinh thần cởi mở, nhân ái và hài hòa. Đặc tính an hòa của truyền thống Việt Nam luôn luôn cho phép người ta tìm thấy những ưu điểm của mọi hệ thống trào lưu tư tưởng, triết lý để thực hiện một mẫu người an lạc và toàn diện, không bao giờ chấp nhận một quan điểm bảo thủ, giáo điều và độc tôn”. Nếu không có tinh thần bình đẳng vua tôi ấy sao có những chiến thắng vang dội thời Lý – Trần và cả Hậu Lê tiếp kế? VMTV xây dựng “Trà Cung đình dày nghi lễ” nên chấp nhận đi ngược chiều với nhận xét tinh tường của Vũ Thế Ngọc khi cả hai cùng tiếp cận một vấn đề?

Như vậy “Trà Cung đình” của VMTV là một thuật ngữ mới toanh, cũng như “Chè Cung đình Huế” được “marketing” rầm rộ ở Sài Gòn, Hà Nội hay thương hiệu “Trà Cung đình” nhà nhà bày bán ở Huế hiện nay đều không minh chứng được nguồn gốc văn hóa ẩm thực từ cung đình Huế vậy! Xem tiếp VMTV – trang 132, mục 2.4 Pha trà, tác giả xây dựng “Kiểu thức pha Trà Cung đình”: Người xưa không bao giờ cẩu thả trong cung cách pha trà, bởi các trà sĩ luôn trân trọng cái thú chơi thanh đạm này. Dù là pha cho riêng mình hay pha trà đãi khách, chủ trà luôn dồn hết tâm tư và công phu trọng vọng. Chỉ nhìn cách pha trà, nhìn chén trà là có thể nhận biết được tính cách của chủ nhân. Sự công phu dần đã trở thành lễ nghi, phảng phất thi vị xen lẫn triết lý nhân sinh. Chẳng lẽ kiểu thức cung đình đúng nghĩa đơn thuần chỉ có thế?

Thực ra, tác giả quá lệ thuộc vào tính chất sang trọng theo phong cách Cung đình kiểu Trung Hoa để viết nên những câu hoa mỹ mở đường cho những giãi đãi về nguyên liệu, cung cách pha trà… Tiếp sau ái mộ văn Phạm Đình Hổ, tác giả không vượt được ám ảnh “chữ ma hiện bóng dòng văn” của Nguyễn Tuân bàng bạc tả hình ảnh “cụ ấm” thời Nguyễn mạt uống trà Tàu (có thể là hình ảnh ông ngoại của Nguyễn) với “Chén trà trong sương sớm”: “Pha cho mình cũng như pha trà mời khách, cụ Ấm đã để vào đấy bao nhiêu công phu. Những công phu đó đã trở nên lễ nghi, nếu trong ấm trà Thái Nguyên pha ngon, người ta chịu nhận thấy một chút mùi thơ và một tị triết lý và tâm lý”. Quên văn Nguyễn Tuân, tác giả quên đề luôn tên cụ Tú Hải Văn, thân sinh Nguyễn, con rể cụ Ấm – tác giả hai câu bày tỏ nhân cách với đời ở VMTV – trang 153: Họ lịch sự như tiên, phú quý như giời…

Xin cấp thêm cho VMTV những nhận định của tạp chí Văn nghệ, số 9, Hà Nội, tháng 2/1958, tr.107 để thấy “Chén trà trong sương sớm” trong Vang bóng một thời đơn thuần một áng văn hay mà thôi, còn đem so với chuẩn cung đình như VMTV kỳ vọng thì vẫn còn “bên rìa”: “Cuốn Hồng Lâu mộng còn tả những thú vui, lối sống của bọn phong kiến tinh vi bội phần, nhưng Tào Tuyết Cần chỉ tả những cái đó để chứng minh rằng những kiểu sinh hoạt tinh vi, tốt đẹp như vậy che đậy một cuộc sống bẩn thỉu thối nát của phong kiến trong lúc suy tàn. Vang bóng một thời, trái lại mô tả lối sống bên rìa đời ấy để mà luyến tiếc, ngâm ngợi”. Trà Tàu cao cấp nhất gia đình Nguyễn Tuân uống ở đây ướp chính hoa thủy tiên – ở miền Nam có cụ Vương Hồng Sển chung sở thích – đó là món uống sang trọng, kiểu cách cầu kỳ và khó mua nổi vì giá cao nhưng rõ ràng không phải Trà Cung đình Việt. Luận cứ xây dựng có “văn hóa trà Cung đình” làm nền tảng cho văn minh “dòng trà Việt uống theo kiểu thức cung đình” từ thế kỷ thứ 10 đến thời “Lê mạt, Trịnh vong” khẳng định thiếu cơ sở thuyết phục.

Tác giả: Trương Đình Bảo Long

Viết bình luận: